Tài liệu

Những bài văn mẫu hay lớp 10

Bài số 1:

Đề bài: PHÂN TÍCH BÀI CẢM HOÀI CỦA ĐẶNG DUNG

một triều đình yếu kém , mục ruỗng , kết quả là quốc gia rơi vào vòng nô lệ . Ngọn cờ nghĩa khí phất lên từ trại Trùng Quang cũng không giành lại được cơ đồ . Là một anh hùng thất thế thời ấy , trước lúc ra đi , Đặng Dung đã để lại một nỗi " cảm hoài " .

" Thế sự du du nại lão hà

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca "

Có phải đó là tiếng thở dài của một người anh hùng thất thế ? " Việc đời trôi mãi nhưng ta đã già rồi " ! Với một cuộc đời chìm nổi, va chạm với rất nhiều thử thách vậy mà bây giờ Đặng Dung phải bó gối ngồi nhìn " thế sự du du " , làm sao tránh được nỗi sầu vạn cổ ? Trong câu hát nghêu ngao của người anh hùng thất thế là cả một nỗi hoài cảm mênh mang " vô cùng thiên địa " ! Vận khứ , tiệc tàn nhưng mối sầu còn mãi với ngàn thu . Giới thiệu mối " cảm hoài " , hai câu đề đã ôm trùm vũ trụ . Một chút đại ngôn cho ta hiểu chí anh hùng .

Theo bố cục cổ điển của một bài thất ngôn bát cú thì hai câu tiếp theo phải là câu thực . Thế nhưng "thời lai đồ điếu thành công dị / Vận khứ anh hùng ẩm hận đa " lại được sinh ra dưới hình hài của hai câu luận - đó là một cách nhìn nhận đánh giá sự thành bại ở đời. Đôi khi, ở những bài thơ thất ngôn bát cú, hai câu luận lại mang nét thực . Đó là khi sự kiện đến ồ ạt , dồn dập khiến ta không còn thời gian để mà bàn luận nữa .Chẳng biết đây có phải là bài thơ duy nhất trong văn học Việt Nam có hai câu thực mang nét luận hay không ? Việc đã theo dòng trôi xa , Đặng Dung có đủ độ lùi để uống cạn niềm cay đắng. Ta hình dung ông như một con người ngồi lại bên dòng chảy cuộc đời mà trầm mặc suy ngẫm.

Kẻ "đồ" , "điếu' mà ông nói đến trong câu thơ trên là Hàn Tín và Khương Tử Nha, hai anh hùng nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Xuất thân từ những kẻ bần hàn , họ vẫn có thể dựng nên công nghiệp, có thể đem tài trí của mình để mộng bá đồ vương. Còn ông xuất thân từ một gia đình danh tướng thì sao?... Cọp chết để da... Đặng Dung ơi ! Tiếng thơm của người anh hùng còn vang mãi . Chẳng phải "lạc nước hai xe đành bỏ phí' ông cho rằng "vận' của mình đã 'khứ'. Thời thế giờ đây không giúp kẻ anh hùng. Ông cay đắng thừa nhận mình bất lực , dẫu không là một kẻ bất tài :

" Trí chủ hữu hoài phù địa trục

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà'

Ta cảm thấy choáng ngợp trước hình ảnh thơ to lớn, kì vĩ. Không có sức mạnh như Hercules của thần thoại Hy Lạp, Đặng Dung vẫn muốn nâng trục đất để giúp vua, giúp nước... Nhà Trần đã đi qua nhưng hào khí của một thời lịch sử kiêu hùng còn bừng cháy trong ông. Lòng yêu nước thương dân của ông đã được thể hiện rất rõ qua câu thơ " tẩy binh vô lộ vãn thiên hà " . Ông muốn tẩy binh. Vâng! Rửa áo giáp của một cuộc chiên tranh tàn khốc. Dù biết sẽ rất khó khăn, ông phải rửa nhữg giọt máu của bao sinh linh còn vương trên áo, rửa đi dấu vết của bụi đường trong ngàn dặm chinh an. Với tấm lòng của một người yêu nước, ông sẵn sàng làm điều đó, ông chỉ muốn vươn tới một nền hòa bình thực sự. Nhưng tiếc thay! Nhịp chùng của bài thơ đã tới, "Vô lộ vãn thiên hà". Chỉ có thiên hà mới gột được giáp binh. Nhưng "thiên hà", con sông rộng lớn với muôn vàn tinh tú, chỉ tồn tại trên bầu trời hoặc trong giấc mơ của những người mang chí lớn mà thôi. Mãi đến lúc ra đi ông vẫn mong tìm cho bằng được đường khai thông thiên hà xuống trần gian, cho nền hòa bình, độc lập trở về cùng đất Việt.

"Quốc thù vị báo đầu tiên bạch

Kỷ độ long tuyền đai'nguyệt ma".

Còn gì buồn hơn cho kẻ anh hùng khi nghiệp lớn của cuộc đời dang dở ? Tuổi xanh qua đi, quốc thù còn đó - ta cứ ngỡ bài thơ khép lại trong một tiếng thở dài.

"Kỷ độ long tuyền đai' nguyệt ma" - câu thơ cuối đã xóa đi những suy diễn tầm thường đó, nó ánh lên một nỗi tự hào, như vầng hào quang của thanh gươm quý ngời lên giữa đêm trăng. Tuổi già, đầu bạc, vận đã qua rồi nhưng người nghĩa sĩ mấy độ mài gươm không có điều gì phải hộ thẹn với đời, dẫu lòng mang bao tiếc nuối. Thanh gươm mà ông từng mài trong đêm trăng ấy có một nét nào đó giống ngọn giáo mà Phạm Ngũ Lão đã từng trấn giữ núi sông. Thanh gươm ấy, hy vọng rằng Đặng Dung vẫn giắt bên hông khi lao mình xuống sông để không lọt vào tay giặc.

Trải qua hơn nửa thiên niên kỷ, "Cảm Hoài" vẫn đứng đấy sừng sững, tượng trưng cho một ý chí Việt Nam. Dù bất lực trước cuộc đời, những câu thơ của Đặng Dung vẫn hằn lên những nỗi niềm to lớn, hình như sĩ khí của một đời cầm gươm đã ám ảnh từng câu chữ - "Phi hào kiệt chi sĩ bất năng". Nhà Hồ tan rã là một điều tất yếu nhưng lịch sử lại có thêm tên tuổi Đặng Dung và văn học Việt Nam mãi khắc ghi một mối "Cảm Hoài".

 

Bài 2: Đề: Thuyết minh về 1 tác phẩm văn học

Bài làm :

Trong dòng văn học ca ngợi truyền thống yêu nước xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được đánh giá là ánh “thiên cổ hùng văn”, là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, được các thế hệ người Việt luôn yêu thích, tự hào.

"Bình Ngô đại cáo" được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết vào khoảng đầu năm 1428, khi cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn đã thắng lợi, quân Minh buộc phải kí hòa ước, rút quân về nước, nước ta bảo toàn được nền độc lập tự chủ, hòa bình. Nguyễn Trãi (1380-1442) là một anh hùng dân tộc, là người toàn tài hiếm có trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Ông có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh đồng thời cũng là nhà thơ trữ tình sâu sắc, nhà văn chính luận kiệt xuất, là cây đại thụ đầu tiên của văn học trung đại Việt Nam.

Tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” được Nguyễn Trãi viết theo thể cáo, một thể văn có nguồn gốc từ Trung Hoa, viết bằng chữ Hán, thuộc thể văn hùng biện chính luận, có nội dung thông báo một chính sách, một sự kiện trọng đại liên quan đến quốc gia dân tộc, công báo trước toàn dân. Nhan đề tác phẩm có ‎ Ý nghĩa là bài cáo trọng đại tuyên bố về việc dẹp yên giặc Ngô-một tên gọi hàm ý khinh bỉ căm thù giặc Minh xâm lược. Bài cáo có bố cục chặt chẽ mạch lạc, viết theo lối biền ngẫu, vận dụng thể tứ lục, sử dụng hệ thống hình tượng sinh động, gợi cảm.

Bài cáo gồm bốn đoạn. Đoạn đầu nêu cao luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến, đó là tư tưởng nhân nghĩa kết hợp với độc lập dân tộc: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân-Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” và “Như nước Đại Việt ta từ trước-Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Đoạn thứ hai của bài cáo đã vạch trần, tố cáo tội ác dã man của giặc Minh xâm lược. Đoạn văn là bản cáo trạng đanh thép, tố cáo giặc Minh ở các điểm: âm mưu cướp nước, chủ trương cai trị phản nhân đạo, hành động tàn sát tàn bạo. Đồng thời, đoạn văn cũng nêu bật nỗi thống khổ, khốn cùng của nhân dân, dân tộc ta dưới ách thống trị của kẻ thù: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn-Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”; “Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế-Gây binh kết oán, trải hai mươi năm”. Đoạn văn ngùn ngụt Ý chí căm thù giặc và thống thiết nỗi thương dân lầm than. Đoạn văn thứ ba là đoạn dài nhất của bài cáo, có Ý nghĩa như bản anh hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Đoạn văn đã tổng kết lại quá trình khởi nghĩa. Ban đầu cuộc khởi nghĩa gặp nhiều khó khăn, lương thảo, quân sĩ, người tài đều thiếu, nghĩa quân ở vào thế yếu “Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần-Khi Khôi Huyện quân không một đội”, “Tuấn kiệt như sao buổi sớm-Nhân tài như lá mùa thu”, “lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều”…Nhưng nghĩa quân có người lãnh tụ Lê Lợi sáng suốt, bền chí, yêu nước “Ngẫm thù lớn há đội trời chung-Căm giặc nước thề không cùng sống”, biết đoàn kết lòng dân “Sĩ tốt một lòng phụ tử-Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”, dùng chiến thuật phù hợp nên nghĩa quân Lam Sơn ngày một trưởng thành “Sĩ khí đã hăng, quân thanh càng mạnh”và ngày càng chiến thắng giòn giã, vang dội “Đánh một trận sạch không kình ngạc-Đánh hai trận tan tác chim muông”, giặc Minh thì liên tiếp thất bại, thất bại sau lại càng thảm hại hơn thất bại trước, mỗi tên tướng giặc bại trận lại có vết nhục nhã riêng: kẻ treo cổ tự vẫn, kẻ quỳ gối dâng tờ tạ tội, kẻ bị bêu đầu…Đoạn văn thứ ba của bài cáo cũng ca ngợi lòng nhân đạo, chuộng hòa bình của nhân dân, dân tộc ta, tha sống cho quân giặc đã đầu hàng, lại cấp cho chúng phương tiện, lương thảo về nước. Đoạn cuối của bài cáo đã tuyên bố trịnh trọng về việc kết thúc chiến tranh, khẳng định nền độc lập, hòa bình vững bền của đất nước, thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

Bài cáo có sự kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa yếu tố chính luận sắc bén với yếu tố văn chương truyền cảm, kết hợp giữa lí luận chặt chẽ và hình tượng nghệ thuật sinh động. Cảm hứng nổi bật xuyên suốt tác phẩm là cảm hứng anh hùng ca hào hùng sôi nổi, mãnh liệt. Giọng điệu của bài cáo rất đa dạng, khi tự hào về truyền thống văn hóa, anh hùng lâu đời của dân tộc, khi thì căm phẫn sục sôi trước tội ác của kẻ thù, khi thống thiết xót thương trước nỗi đau lầm than của nhân dân, khi lo lắng trước những khó khăn của cuộc kháng chiến, khi hào hùng ngợi ca chiến thắng, khi trịnh trọng tuyên bố độc lập của dân tộc, đất nước.

“Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi là bản anh hùng ca ca ngợi chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta thế kỉ XV. Tác phẩm vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị văn học, không chỉ lưu giữ những sự kiện lịch sử mà còn lưu truyền lòng yêu nước tự hào dân tộc đến các thế hệ người Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam ngày nay đều hào sảng trước những câu văn hùng hồn:

“Như nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia,

Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập,

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

Song hào kiệt đời nào cũng có…”

 

TAG: Nhung bai van hay lop 10van mau lop 10

Chia-se-voi-ban-be
TIN LIÊN QUAN